Ma và Ngạ quỷ

Ma và Ngạ quỷ
Nếu không có linh hồn, thì âm ti có hay không ? Ngạ Quỷ là ai ? Nhà họ ở đâu ? Họ sống bằng cách nào ? Lễ Vu Lan có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ?>> Những giáo lý Phật giáo nên đọc

Bài liên quan

Ma quỷ dưới góc nhìn khoa học

Ngày đại lễ Vu Lan có phần cúng Mông Sơn Thí Thực, người hay đi chùa chỉ nghe nói cúng Mông Sơn, mà ít nghe nói cúng thí. Vậy Mông Sơn Thí Thực, bốn chữ này phải có ý nghĩa gì đặc biệt mà người ta phải dùng?. Một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là cúng cháo. Tại sao phải cúng cháo?

Bạn đang đọc: Ma và Ngạ quỷ

Qua cái nhìn của Văn hóa và Tôn giáo Nước Ta, thì con người gồm có một phần xác và một phần hồn. Khi phần xác chết thì phần hồn sẽ lìa khỏi xác và phần này được gọi là linh hồn. Nếu linh hồn đó không có thời cơ đầu thai hoặc nơi trú ngụ, mà còn vương vất ở những nơi có tương quan đến họ khi còn sống, thì từ ngữ bình dân thường gọi là : Ma, Hồn ma, Quỷ, Cô hồn … Ma hay Hồn ma, là một khái niệm trừu tượng, trên thực tiễn, khi nói đến ma người ta thường miêu tả thấy một dáng người, trắng bạc, hay một cái bóng lờ mờ, hoặc một đống đen thùi lùi, còn chỗ ở của ma là những ngôi mộ, nhưng ma cũng hoàn toàn có thể vương vất ở những nơi tăm tối, vắng vẻ. Theo quan điểm 1 số ít người nói là : chỉ có người có duyên với Ma thì mới hoàn toàn có thể nhìn thấy được Ma hay những người có năng lực đặc biệt quan trọng còn gọi là những nhà ngoại cảm là hoàn toàn có thể thấy và chuyện trò được với Ma. Một số khác cho rằng Ma hoàn toàn có thể biết được toàn bộ những gì người sống nghĩ và những việc đã, đang và sắp xảy ra như hiệu quả xổ số kiến thiết, đồng thời cũng có năng lực tác nhập xác của người sống như hiện tượng kỳ lạ lên đồng, tác động ảnh hưởng lên cảm quan người sống như dắt người sống đi lạc vào bụi, xúi người sống ăn đất mà tưởng ăn bánh hoặc ma hoàn toàn có thể ảnh hưởng tác động lên vật chất như tạo ra tiếng động, rung cây, xô lệch bàn và ghế … Đại đa số người ta chỉ nói : Ma chỉ nhát người chứ không hại người. Những người thường hay tin có Ma là phụ nữ, trẻ nhỏ, người già, sống ở vùng miền quê. Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngày nay, Ma vẫn là huyền bí so với trái đất, có những câu truyện nói về Ma, nhưng cũng không hề Tóm lại được là có Ma. Sự huyền bí này còn bị hạn chế trong tầm hiểu biết của con người. Các nhà cận tâm lý học có rất nhiều nghiên cứu và điều tra về hiện tượng kỳ lạ ma quỷ nhưng vẫn chưa có khẳng định chắc chắn khoa học nào.

Bài liên quan

Người niệm Phật thì chẳng ma quỷ nào dám đến gầnTheo những giả thuyết khoa học Ma hoàn toàn có thể là do những sóng hạ âm gây ra, gió biển mạnh thổi nhanh dọc theo những hiên chạy và tháp canh của những thành tháp và biệt thự cao cấp cổ tạo ra những sóng hạ âm được cho là nguyên do gây ra hiện tượng kỳ lạ nghe tiếng ma ở những nơi này. Các nhà khoa học còn có giả thuyết : Mỗi con người tất cả chúng ta đều phát ra một từ trường có tần số giao động riêng, khi ta chết đi, nguồn sóng từ trường vẫn sống sót. Khi có một ai đó có tần số tương thích, sẽ kích thích từ trường này, làm cho người xung quanh nơi đó thấy lại những cảnh hoạt động và sinh hoạt trước đây của người chết. Trong tín ngưỡng dân gian, người ta thường dùng những loại bùa chú, thánh giá, máu chó, tỏi, củ hành, cây dâu, cây đồng đình … để trừ ma, nhưng đôi lúc những vật này không công dụng gì với Ma mà họ cũng chẳng lý giải được tại sao Ma lại không sợ. Các thầy ngải dùng linh hồn, thường là chết oan, để trù ếm và luyện những những loại ngải có công dụng hại người. Mỗi vương quốc đều có những lịch sử một thời về Ma khác nhau, do đó Ma cũng trở thành phong phú. Thí dụ như ở Nước Ta có ma da, ma le, ma gà, ma lai, ma trơi, ma không đầu, ma lưỡi dài, ma một mắt, ma cổ dài … Ở phương Tây thì có ma sói, ma cây, ma cà rồng. Theo Phật giáo, Ma gọi đúng hơn là ngạ quỷ, là một trong lục đạo luân hồi, xếp trên súc sanh và âm ti. Loài ngạ quỷ có hai nơi ở, một là nước Diêm La của nó, hai là sống trên dương gian cùng với người, vì thế người ta hay nói đi đêm có khi gặp quỷ. Cuốn Petavatthu ( Peta = Quỹ + vatthu = Truyện ) là quyển sách thứ bảy trong Khuddaka Nikaya. Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Khuddaka Nikàya là quyển thứ năm của bộ Kinh Tạng ( Sutta Pitaka ). Bộ kinh này gồm có : Trường Bộ ( Digha Nikaya ), Trung Bộ ( Majjhima Nikaya ), Tương Ưng Bộ ( Samyutta Nikaya ), Tăng Chi Bộ ( Anguttara Nikaya ), và Tiểu Bộ ( Khuddaka Nikaya ). Con người được coi như một tiểu thiên địa, một thiên hà thu nhỏ. Vũ trụ bát ngát có vô số hệ mặt trời có sự sống giống như toàn cầu. Một hệ mặt trời mà có 1 hành tinh có sự sống hoàn toàn có thể tạm gọi là Tam Giới. Trong ABHIDHAMMA chương 10 có nói về Tam Giới và nó có 31 cõi được phân loại như sau : 11 cõi dục giới, 16 cõi sắc giới, 4 cõi vô sắc giới. Mỗi cõi có cấu trúc vật chất trọn vẹn khác nhau. Tiểu Thế Giới gồm 1.000 cái Tam Giới, Trung Thế Giới gồm 1.000 Tiểu Thế Giới, Đại Thế Giới gồm 1.000 Trung Thế Giới. Còn Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là vô tận. Tam giới tăng trưởng qua 4 quy trình tiến độ : Thành, Trụ, Hoại, Không. Một chu kỳ luân hồi Thành, Trụ, Hoại, Không của Tam Giới gọi là Trụ Kiếp, 4 Trụ Kiếp được gọi là Đại Kiếp. Các dạng sống trên Tam Giới thường khởi đầu bằng sự Hóa Sanh khi hội đủ Duyên hay điều kiện kèm theo. Sau đó mới có Thai Sanh, Noãn Sanh. Một năm trần gian tính tương đối là 365 ngày.

Dục giới gồm có 11 cõi : 4 cõi khổ và 7 cõi thiện dục giới như sau:

1. Ðịa Ngục ( Niraya ) : Cõi này chỉ có mọi sự thống khổ chứ không có sự an vui, nơi mà những chúng sinh Tự Trừng Phạt do những Ác Nghiệp đã tạo. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định. 2. Ngạ Quỹ ( Pettivisaya ) : Chúng không phải là ma quỹ vô hình dung, chúng có sắc thân nhưng mắt người không hề thấy được. Chúng không có cảnh giới riêng và luôn luôn bị đói khát. Chúng sống ở nhiều nơi khác nhau, nhà dân, rừng núi, hang động hay những chỗ nhớp nhúa. .. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định. 3. Súc Sanh ( Tiricchānayoni ) : Các sinh vật đi ngang, bò đi, không đi thẳng như người, còn gọi là Bàng sanh, gần như là toàn bộ sinh vật thông thường trừ con người. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định. 4. A-Tu-La ( Asurakāya ) : Asura nghĩa là những vị không có mừng thầm hay không chói sáng. Những chúng sanh này rất hung tàn, hay gây gổ. Loại A-Tu-La sanh ở đây không giống với loại A-Tu-La chư thiên chuyên gây chiến với chư thiên và sống ở cõi Tam Thập Tam Thiên. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định. 5. Cõi người ( Manussa ) : những người có tâm hùng vĩ, do đó phải hiểu rằng được làm người là rất khó, toàn bộ mọi đứa trẻ thông thường được sinh ra đều là những thiên thần, chính đời sống và những người xung quanh biến chúng thành lạ lùng, con người là cái gì đó rất thiêng liêng và cao quý. 6. Tứ Thiên Vương ( Cātummahārājika ) : đây là cõi thấp nhất trong những cõi chư thiên. Tuổi thọ 9.000.000 tuổi người. Dưới nó còn có những chư thần thấp hơn như sơn thần, thổ địa, thánh mẫu. .. ( thường 1 ngày của họ bằng 1 tháng, 1 năm hoặc hơn tùy theo tầng cao hay thấp ) 7. Tam Thập Tam Thiên ( Tāvatimsa ) : Ðế Thích ( Magha ) cư ngụ ở đây. Sở dĩ gọi như vậy vì theo tích truyện có 33 vị dưới sự hướng dẩn của Ðế Thích đã làm những việc thiện và được tục sinh tại đây. Tuổi thọ 36.000.000 tuổi người. 8. Dạ Ma Thiên ( Yāma ) : Yam nghĩa là tàn phá, diệt trừ. Nơi đây mọi đau khổ đều được trừ diệt. Tuổi thọ 144.000.000 tuổi người. 9. Ðâu Suất Ðà Thiên ( Tusita ) : những vị sống sung sướng. Theo tục truyền, vị Bồ Tác tương lai ( Di Lặc ) đang sống tại đây và chờ thời cơ thuận tiện để tái sinh làm người và thành Phật. Tuổi thọ 576.000.000 tuổi người. 10. Hóa Lạc Thiên ( Nimmānarati ) : những vị sống hoan hỉ trong những thành tháp tự tạo ra. Tuổi thọ 2.304.000.000 tuổi người. 11. Tha Hóa Tự Tại Thiên ( Paranimmitavasavatti ) : những vị đem dưới quyền của mình những vật do những vị khác đã hóa hiện. Tuổi thọ 9.216.000.000 tuổi người. Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Sắc Giới gồm 16 cõi:

Cõi Sơ Thiền Sắc Giới có:

Phạm Chúng Thiên ( Brahmapārisajjā ) : đây là cảnh giới thấp nhất. Những vị sanh ra ở đây là đồ chúng của Ðại Phạm Thiên ( Mahābrahmā ). Tuổi thọ 1/3 Trụ Kiếp. Phạm Phụ Thiên ( Brahmapurohitā ) : những vị sanh ra ở đây sẽ là phụ tá cho Ðại Phạm Thiên. Tuổi thọ 50% Trụ Kiếp. Ðại Phạm Thiên ( Mahābrahmā ) : những vị sanh ở đây có hình thái đẹp, hưởng nhiều niềm hạnh phúc và sông lâu hơn những vị sinh trong 2 cảnh trời trên. Tuổi thọ 1 Trụ Kiếp.

Cõi Nhị Thiền Sắc Giới có:

Thiểu Quang Thiên ( Parittābhā ). Tuổi thọ 2 Đại Kiếp. Vô Lượng Quang Thiên ( Appamānābhā ). Tuổi thọ 4 Đại Kiếp. Quang Âm Thiên ( Ābhassarā ). Tuổi thọ 8 Đại Kiếp. Cõi Tam Thiền Sắc Giới : Thiểu Tịnh Thiên ( Parittasubhā ). Tuổi thọ 16 Đại Kiếp. Vô Lượng Tịnh Thiên ( Appamanāsubhā ). Tuổi thọ 32 Đại Kiếp. Biến Tịnh Thiên ( Subhakinhā ). Tuổi thọ 64 Đại Kiếp.

Cõi Tứ Thiền Sắc Giới có:

Quảng Quả Thiên ( Vehapphalā ). Tuổi thọ 500 đại kiếp. Vô Tưởng Thiên ( Asaññasattā ). Tuổi thọ 500 đại kiếp. Vô Phiền Thiên ( Avihā ). Tuổi thọ 1.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên. Vô Nhiệt Thiên ( Atappā ). Tuổi thọ 2000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên. Thiện Hiện Thiên ( Sudassā ). Tuổi thọ 4.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên. Thiện Kiến Thiên ( Sudassì ). Tuổi thọ 8.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên. Sắc Cứu Kính Thiên ( Akaniṭṭhā ). Tuổi thọ 16.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên.

Vô Sắc Giới gồm 4 cõi:

Không Vô Biên Xứ Thiên ( Ākāsānañcāyatanabhūmi ). Tuổi thọ 20.000 đại kiếp. Thức Vô Biên Xứ Thiên ( Viññānancāyatanabhūmi ). Tuổi thọ 40.000 đại kiếp. Vô Hữu Xứ Thiên ( Ākiñcāññāyatanabhūmi ). Tuổi thọ 60.000 đại kiếp. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên. ( Nevasaññānāsaññāyatanabhūmi ). Tuổi thọ 84.000 đại kiếp. Theo lời của Đức Phật Thích Ca thì hoàn toàn có thể Thiền Tuệ đạt đến Diệt Thọ Tưởng Định, lúc đó sẽ là Vô Sinh – Vô Diệt, thoát khỏi sinh tử luân hồi.

Ngạ Quỷ là ai? Nhà họ ở đâu? Họ sống bằng cách nào?

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Bài liên quan

Quan điểm về ma quỷ và địa ngục qua góc nhìn Phật giáoTrong cõi khổ thứ hai có tuổi thọ không nhất định của Dục giới có miêu tả về Ngạ Quỷ ( Pali gọi là Pettivisaya ). Chúng không phải là ma quỷ vô hình dung, chúng có sắc thân nhưng mắt người không hề thấy được. Chúng không có cảnh giới riêng và luôn luôn bị đói khát. Chúng sống ở nhiều nơi khác nhau, nhà dân, rừng núi, hang động hay những chỗ nhớp nhúa. Từ Pettivisaya trong tiếng Pali được định nghĩa như sau : Petā có nghĩa là cách ly sự an nhàn, xuất nguồn từ câu : Sukhasamussayato Pākaṭṭho entīti. Petti là Hội chúng của Ngạ quỷ xuất nguồn từ câu : Petānaṃ samūho. Pettivisayo là chỗ ở, chỗ sanh của Ngạ quỷ xuất nguồn từ câu : Pettiyā visayo. Ngạ quỷ cũng có nhiều loại, Ngạ quỷ nhỏ, Ngạ quỷ lớn, Ngạ quỷ biến hóa thành hình ảnh đẹp hoặc hình ành xấu. Về hình đẹp thì cho thấy dạng, nam, nữ, đạo sĩ, Sa di, Tỳ khưu. Còn xấu thì cho thấy là trâu, bò, voi, chó với hình dạng kinh khiếp như có đầu to, mắt lồi và có khi không hiện rõ … Trong những loài Ngạ quỷ cũng có những loại phải chịu đói khát khổ sở, ăn những cặn bả được quăng bỏ ở những nơi dơ bẩn hay ăn đàm, mũ, nước miếng và phẩn … Phẩm Lokapaññatti có ghi rằng : ” Yattha petanagare petamahiddhiko sabbapetānaṃ issariyādhipaccankaroti “. Rừng Vijjhātīavī là kinh thành của loài Ngạ quỷ, và Ngạ quỷ Mahiddhika là vị chúa tể quản lý toàn bộ những Ngạ quỷ khác.

Đây là 12 loại Ngạ quỷ được điển hình trong phẩm Lokapaññatti và Gacchatidīpanī:

1 – Vantāsapetā hay Vantāsa : Ngạ quỷ ăn nước miếng, đàm, vật nôn mữa. Nguyên nghĩa Pali : Vantaṃ asati bhakkhatīti = Vantāso. 2 – KuṇApāsapetā hay Kuṇapāsa : Ngạ quỷ ăn tử thi người hoặc thú. Nguyên nghĩa Pali : Kunapaṃ arati dakkhatīti = Kuṇapāso. 3 – Gūthakhādakapetā hay Gūthakhādaka : Ngạ quỷ ăn phẩn. Nguyên nghĩa Pali : Gūthaṃ khādatīti = Gūthakhadako. 4 – Aggijālamukhapetā hay Aggijālamukha : Ngạ quỷ thường có lửa trong miệng. Nguyên nghĩa Pali : Aggijālamukhatā etassāti = Aggījālamukho. 5 – Sucimukhapetā hay Sūcimukha : Ngạ quỷ có miệng bằng lổ kim. Nguyên nghĩa Pali : Sūcipamānaṃ sukhaṃ etassāti = Sūcimukho. 6 – Taṇhaṭṭikapetā hay Taṇhāhaṭṭita : Ngạ quỷ thường bị ái bức hại cho đói khát. Nguyên nghĩa Pali : Taṇhāya aṭṭhito pūḷitoti = Taṇhāhaṭṭito. 7 – Sunijjhāmakapetā hay Sunijjhāmaka : Ngạ quỷ có thân đen như than. Nguyên nghĩa Pali : Suṭṭhu nissesena jhāno = Sunijjhāmo, Sunijjhāmo viyāti = Sunijjhāmako. Cây bị lửa đốt hết cành, lá, thân, chỉ còn lại gốc cây bị cháy gọi là Sunijjhāmaka. 8 – Suttaṅgapetā hay Suttaṅga : Ngạ quỷ có móng tay nhỏ, móng chân dài và bén nhọn như dao. Nguyên nghĩa Pali : Sattasadisaṃ aṅgaṃ etassāti = Suttaṅgo. 9 – Pabbataṅgapetā hay Pabbataṅgo : Ngạ quỷ có thân to lớn bằng quả núi. Nguyên nghĩa Pali : Pabbatappamaṇo aṅgo etassāti = Pabbataṅgo. 10 – Ajagaraṅgapetā hay Ajagaraṅga : Ngạ quỷ có thân giống như con trăn. Nguyên nghĩa Pali : Ajagarasadiso aṅgo etassāti = Ajararaṅgo. 11 – Vemānikapetā hay Vemānika : Ngạ quỷ bị cảm thọ khổ lúc ban ngày, nhưng đêm hôm được thọ hưởng lạc trong Thiên cung. Nguyên nghĩa Pali : Vimāne nibbattoti = Vemāniko. 12 – Mahiddhikapetā hay Mahiddhika : Ngạ quỷ có Đại thần lực. Nguyên nghĩa Pali : Mahatiyā iddhiyā samannāgatoti = Mahiddhiko.

Petavatthu và Aṭṭhakathā, ṭīkā cũng có ghi bốn loại Ngạ quỷ thường được kể trong chủ đề của họ như là:

1 – Parehidattaṃ upanissāya jīvatīti = paradattupajīviko. Vì sống phải dựa vào người khác nuôi, nên người ta đặt tên nó là Ngạ quỷ Paradattupajīvika. 2 – Khudā ca pīpāsā ca = Khuppipāsā ( Đói và khát ). KhuppiPāsāhi pilito = KhuppiPāsiko ( sự đói khát ). Khuppipāsika là Ngạ quỷ đói và khát. 3 – Nijjhāmena taṅhā etassāti = Nijjhāmataṇhiko. Vì có sự thèm ái dục hay sự đói khát tiếp tục và liên hệ từ lửa cháy trong miệng do đó Ngạ quỷ này được gọi là Nijjhāmataṇhika. 4 – Ngạ quỷ Kaḷakañcika này khỏi phải định nghĩa, vì là tên của Atula, như trong Pātheyyavagga aṭṭhakathā có ghi rằng : ” Kālakañcikāti tesaṃ asurānaṃ nāmaṃ “. Gọi là Kālakañcika này là tên của Atula thuộc loài Ngạ quỷ.

Vài loài Ngạ quỷ mà Bồ-tát không sanh vào là:

1 – Ngạ quỷ KhuppiPāsika 2 – Ngạ quỷ Nijjhāmataṇhika 3 – Ngạ quỷ Kālakañcika Ngoài những loại Ngạ quỷ đã kể trên, còn có nhiều loại khác, như Ngạ quỷ Suciloma là loại Ngạ quỷ có lông như kim, Ngạ quỷ Kharaloma là Ngạ quỷ có lông thô, Ngạ quỷ Ghanakha là Ngạ quỷ có móng tay và móng chân dài.

Theo Lakkhaṇasamyutta có 21 loại Ngạ quỷ được trình bày như sau:

1. Aṭṭhisaṅkhasikapetā : Ngạ quỷ có xương dính với nhau thành từng khúc, nhưng không có thịt .
2. Maṃsapesikapetā : Ngạ quỷ có thịt thành từng mãnh, nhưng không có xương.

3. Maṃsapiṇḍapetā: Ngạ quỷ có thịt thành từng cục, thành khối.

4. Nicchaviparisapetā : Ngạ quỉ không có da. 5. Asilomapetā : Ngạ quỷ có lông như gươm. 6. Sattilomapetā : Ngạ quỷ có lông như giáo. 7. Usulomapetā : Ngạ quỷ có lông như cây tên. 8. Sūcilomapetā : Ngạ quỷ có lông như kim. 9. Dutiyasūcilomapetā : Ngạ quỷ có lông như kim, loại thứ hai. 10. Kumbhaṇḍapetā : Ngạ quỷ có hòn dái rất to. 11. Gūthakūpanimuggapetā : Ngạ quỷ chìm ngập trong phẩn. 12. Gūthakhādakapetā : Ngạ quỷ ăn phẩn. 13. Nicchavitakipetā : Ngạ quỷ cái không có da. 14. Duggandhapetā : Ngạ quỷ có mùi hôi thối. 15. Ogilinīpetā : Ngạ quỷ có thân như cây đuốc, lửa. 16. Asisapetā : Ngạ quỷ không có đầu. 17. Bhikkhupetā : Ngạ quỷ có hình tướng giống Tỳ khưu. 18. Bhikkhunīpetā : Ngạ quỷ có hình tướng giống Tỳ khưu ni. 19. Sikkhāmānapetā : Ngạ quỷ có hình tướng giống học nữ. 20. Sāmaṇerapetā : Ngạ quỷ có hình tướng giống Sa di. 21. Sāmaṇerīpetā : Ngạ quỷ có hình tướng giống Sa di ni. Nhận thấy sự khổ đau cùng tột của loài ngạ quỷ mang hình thù quái vị, bởi do nghiệp chướng, tham lam bòn sẻn đời trước mà chiêu cảm quả báo đời này. Ðức Phật với tâm từ bi vô tận đã thuyết ra nhiều pháp môn phương tiện đi lại để cứu độ. Một trong những pháp môn phương tiện đi lại để cứu độ loài ngạ quỷ đó là pháp chẩn tế cô hồn. Trong pháp nghi này, Ðức Phật đã thuyết ra rất nhiều chơn ngôn thần chú, như Phổ triệu thỉnh chơn ngôn, Tịnh nghiệp chướng chơn ngôn, Phá âm ti chơn ngôn, Khai yết hầu chơn ngôn, Biến thực chơn ngôn, Biến thủy chơn ngôn … để chỉ cho họ thấy được đâu là nẻo chánh đường tà, khiến họ dứt trừ được tâm tham lam bỏn sẻn, hồi tâm hướng thiện một lòng tu hành, được vĩnh viễn thoát hẳn những sự khổ não của cảnh giới ngạ quỷ. Ðấy chính là tính năng và mục tiêu của pháp chẩn tế cô hồn, mà trong những chùa, sau khi kết thúc bất kể một pháp sự nào, đều có tổ chức triển khai nghi thức cúng cô hồn này. Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngày đại lễ Vu Lan có phần cúng Mông Sơn Thí Thực, người hay đi chùa chỉ nghe nói cúng Mông Sơn, mà ít nghe nói cúng thí. Vậy Mông Sơn Thí Thực, bốn chữ này phải có ý nghĩa gì đặc biệt quan trọng mà người ta phải dùng ?. Qua hai thần thoại cổ xưa ghi laị trong 2 bộ kinh khác nhau : Kinh Vu Lan ( phạn ngữ gọi là Ullambana có gốc từ động từ căn là ud – √ lamb, có nghĩa treo ngược lên, và những dịch giả Trung Quốc dùng từ hòn đảo huyền treo ngược lên cho từ Vu lan, chỉ sự khổ đau kinh điển khi sa đọa âm ti ). Lễ Vu Lan xuất phát từ truyền thuyết thần thoại về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu, nghe theo lời dạy của Ðức Phật, đã lập trai đàn cầu nguyện vào ngày rằm tháng 7 để cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ, và ngày này đã trở thành đợt nghỉ lễ hằng năm để tỏ hiếu với cha mẹ, ông bà và cũng để giúp sức những linh hồn đói khát trong 1 số ít nước Á Đông. Ở Nhật dịp nghỉ lễ này được tổ chức triển khai vào ngày 7 tháng 7 để tỏ những ước nguyện của mình, người ta thường viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước điều ước đó sẽ trở thành hiện thực. Phương thức cúng dường để cầu siêu gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng mang tên là Vu Lan bồn hội, và bộ kinh là Vu Lan bồn. Kinh này do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn ( 265 – 316 ). Lễ cúng cô hồn bắt nguồn từ kinh Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh, dựa theo câu truyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa ( diệm khẩu ) cũng gọi là quỷ mặt cháy ( diệm nhiên ).

Bài liên quan

‘Ma’ hiển hiện thế nào trong kinh sách?Cuốn Phật thuyết cứu diện nhiên ngạ quỷ đà la ni thần chú kinh do ngài Śikṣānanda, đời Đường, dịch vào năm 695 – 700, cùng với ba tác phẩm khác của Mật tông do ngài Bất Không Kim Cương dịch, đó là Phật thuyết cứu diệm khẩu đà la ni kinh. Du già tập yếu cứu a nan đà la ni diệm khẩu quỷ nghi kinh, và Du già tập diệm khẩu thí thực khởi giáo a nan đà duyên do. Dựa vào những tác phẩm Mật tông này mà ngài Bất Không Kim Cương được xem là tổ thứ ba của Mật tông Nước Trung Hoa và cũng là tác giả đã soạn ra nghi thức cho lễ Thí ngạ quỷ. Người Phật tử Nước Trung Hoa gọi lễ này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, và nghi thức này từ từ trở thành thói quen trong những nước á Châu, với tên là lễ cúng cô hồn. Vậy lễ Vu Lan có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ? Không !. Ðây là hai lễ cúng khác nhau nhưng được cử hành trong cùng một ngày. Nghi thức cầu siêu cho cô hồn hoàn toàn có thể phát xuất từ đời nhà Đường bên Trung Quốc do ngài Huyền Trang, lập đàn siêu độ cho tứ sanh đang luân hồi trong lục đạo. Đến đời Tống, đại sư Bất Không Kim Cương ở Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, quán biết những cô hồn đang vất vưởng, yên cầu những nhu yếu thiết yếu, nên Ngài đã ghi ra nghi thức lễ để đáp ứng và siêu độ cho họ và từ đó mới có nghi thức Mông Sơn Thí Thực. Mông Sơn là một tỉnh tại phía tây miền trung Trung Quốc. Thủ phủ là Thủ Đô. Vùng này nằm trong Lòng chảo Tứ Xuyên và có dãy núi Himalayas bao quanh về phía tây, về phía bắc có dãy núi Tần Lĩnh, về hướng nam có những vùng núi đồi của Vân Nam. Sông Dương Tử chảy qua lòng chảo và cũng là thượng nguồn so với những vùng phía đông của Trung Quốc. Sông Mân Giang ở TT Tứ Xuyên là một nhánh của thượng nguồn Sông Dương Tử mà nó nhập vào tại Nghi Tân. Du lịch có khu ngoạn cảnh Núi Nga Mi, Nhạc Sơn Đại Phật ( tượng Phật to ở Nhạc Sơn ) … THÍ là việc làm đứng đầu lục độ vạn hạnh có 3 cách để làm : Tài thí cũng gọi là tư sanh thí, pháp thí và vô úy thí. THỰC : là Thức ăn trong tiếng Trung Quốc.

Thí thực là bố thí thức ăn và ý nghĩa ăn của Phật Giáo như sau:

1 ) Ðoạn thực : thức ăn cứng, hoàn toàn có thể chia thành phần như cơm, cháo, rau, canh, thịt, cá v.v. và những thức vật có mùi vị làm xúc cảm tâm thức. 2 ) Xúc thực : Ăn với thức quan hay biết mùi vị, tức là cách ăn của Quỷ, Thần thọ hưỡng mùi vị mà thôi. 3 ) Tư thực : ăn với sự kiện thần giao tư tưởng, là phép ăn của bậc Thiên trên cỏi sắc giới, ăn với phương pháp thuyền duyệt tức là không chủ về vật phẩm ăn mà chỉ thọ hưỡng hơi hương, luôn luôn xem việc ăn là đạo vị, thanh tịnh. 4 ) Thức thực : ăn qua sự giao cảm của thức thứ 8, phép ăn nầy bậc Thánh, Phàm có khác nhau, bậc Thánh hưỡng thụ một cách hồn nhiên không phân biệt, còn bậc phàm phân biệt là ngon, dở ; do chỗ phân biệt mà có tham muốn rồi khởi lên tư tưởng tham ăn đến bị vào vòng sinh tử, luân hồi. Nghi thức thí thực này thường được tổ chức triển khai vào mùa Vu Lan Báo Hiếu, vào dịp đại lễ khánh thành chùa hoặc 49 ngày cho người vừa qua đời hay ngày cúng cơm, để hồi hướng công đức siêu độ cho vong linh. Trong truyền thống cuội nguồn Phật Giáo Đại Thừa Nước Ta, việc cúng Cô hồn hay Đàn tràng Chẩn tế là một pháp thức để cầu siêu cho những vong linh của những người đã chết mà vì oan nghiệp chưa siêu thoát. Nghi thức này được gọi là Thập loại Chúng sinh, như Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du hay Thập loại Cô hồn.

Thập loại cô hồn được phân loại như sau:

1. Thủ hộ quốc giới : Loại oan hồn vị quốc vong thân ; 2. Phụ tài khiếm mạng : Loại oan hồn chết vì trái chủ oan gia, trụy thai, sẩy thai ; 3. Khinh bạc Tam Bảo : Loại oan hồn vì tạo nghiệp bất hiếu, phụ nghịch, vô đạo ; 4. Giang hà thủy nịch : Loại oan hồn chết sông, chết biển ; 5. Biên địa tà kiến : Loại oan hồn ở nơi biên ải hẻo lánh xa xăm ; 6. Ly hương khách địa : Loại oan hồn phiêu bạc tha hương, chết đường, chết bụi ; 7. Phó hỏa đầu nhai : Loại oan hồn chết vì tự tử, trầm mình xuống sông, núi, chết đâm, chết chém ; 8. Ngục tù trí mạng : Loại oan hồn chết vì bị tra tấn, khổ nhục trong lao tù ; 9. Nô tì kết sử : Loại oan hồn chết vì bị nô lệ, hành hạ, đày đọa ; 10. Manh mung ám á : Loại oan hồn lúc sống bị đui, què, câm, điếc, cô quả không ai chăm nom. Đàn tràng chẩn tế, Trai đàn hay làm chay và chạy kinh đàn, là một nơi tổ chức triển khai những nghi lễ của Mật Giáo, dùng sự trang nghiêm thanh tịnh làm gốc để nhất tâm hồi hướng cho những loại cô hồn hay vong linh vì oan nghiệp chưa siêu thoát đang còn sống trong quốc tế mong lung. Một trai đàn cúng thí thường lê dài từ 3 tiếng đến 7 tiếng đồng hồ đeo tay. Đàn tràng phạn ngữ viết là मण ् डल, đươc phiên âm Anh hóa là mandala có nghĩa là vòng tròn hay sự tròn vẹn. Từ mandala là danh từ ghép từ 2 chữ ” Manda, nghĩa là cốt lõi ” và tiếp vĩ ngữ ” la có nghĩa hàm chứa thêm vào đó “. Nghĩa chung của Mandala là một ” vật chứa sự cốt lõi “. Thuật ngữ này thường được dùng để chỉ những đồ hình có mang đặc tính tượng trưng biểu lộ một dạng thức hình học của thiên hà hay của tiểu bản thể con người. Khởi gốc, những đồ hình Mandala hoàn toàn có thể đã phát nguồn từ đạo Bà la môn. Theo Nitin Kumar 2, thì Mandala hoàn toàn có thể Open sớm nhất ở Ấn hay Ấn Âu và liên hệ đến học thuật Rig Veda. Mandala là một chương, một tập hợp của những bài chú hay bài thánh kệ được tụng lên trong những buổi lễ Vệ đà, qua đó những âm thanh thiêng liêng được chuyển tải trong những dạng thức di truyền của những chúng sinh và sự vật. Cúng thí thực cô hồn là một nghi thức cứu độ cho những oan hồn uổng tử, không nơi lệ thuộc đã có tự ngàn xưa. Phát xuất từ hồi Phật còn tại thế. Một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là cúng cháo. Tại sao phải cúng cháo ? Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Tại chùa, cúng thí thực hay cúng Mông sơn thí thực là một phần hành trì thiết yếu hằng ngày sau công phu chiều. Một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là cúng cháo. Tại sao phải cúng cháo ? Vì theo truyến thuyết những quỷ đói với thân hình xấu xí, cái bụng bằng cái trống nhưng cần cổ chỉ nhỏ bằng cây kim, không hề nhà hàng gì được, chỉ húp được nước cháo mà thôi. Nghi thức cúng cháo mở màn từ lúc Đức Phật còn tại thế, trong Kinh ” Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh ” có ghi rằng : Tôn giả A Nan, thị giả của Phật, đang thiền tọa trong đêm khuya vắng, khoảng chừng canh ba chợt thấy một con quỷ đói với một thân xác tiều tụy khô gầy xấu xí, mặt cháy xám ( diện nhiên ), cần cổ nhỏ bằng kim, miệng phun ra lửa ( diệm khẩu ), bước vào cảnh báo nhắc nhở rằng ba ngày sau ngài A Nan sẽ chết và sẽ đọa vào loài quỷ đói. Tôn giả A Nan nghe sợ quá, nên hỏi con quỷ làm cách nào để thoát khỏi khổ nạn. Quỷ bảo rằng ” Rạng sáng ngày mai, ông dùng những thức uống ăn đem bố thí cho loài quỷ đói và phát tâm cúng dường Tam Bảo hồi hướng công đức để giúp chúng tôi sớm thoát khổ âm ti và ngạ quỷ, thì ông mới thêm tuổi thọ “. Ngài A Nan quá kinh hãi nên bạch Phật tương hỗ. Phật dạy : ” Ông chớ có quá lo âu, ta nhớ lại trong quá khứ vô lượng kiếp, thuở đó ta làm người dòng Bà la môn, đối trước Bồ Tát Quán Thế Âm, ta thọ được pháp đà la ni ( biến thực chân ngôn ) của Phật vô lượng uy đức Tự Tại Quang Minh Như Lai : ta nay truyền dạy lại ngươi, nếu trì tụng thần chú đây, niệm được bảy biến hoàn toàn có thể khiến cho một món ăn hoá ra làm vô lượng món ăn và trở thành mùi vị cam lộ ngon ngọt, khiến cho những loài được thọ hưởng no đủ “. Tiếp đó Đức Thế Tôn đã dạy rõ chiêu thức cứu độ ngạ quỹ qua bản Kinh ” Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni “. Nghi thức cúng cháo sau này đã được chư tổ đức Nước Trung Hoa soạn thảo thành ” Du Già Diệm Khẩu Thí Thực khoa nghi “. Theo thần thoại cổ xưa tín ngưỡng truyền thống Á châu, người ta tin rằng con người có hai phần : hồn và xác. Khi chết, hồn lìa khỏi xác, xác bị phân hủy còn hồn sẽ liên tục sống sót. Hồn hoàn toàn có thể lên thiên đường hay đầu thai kiếp khác, hoặc bị giáng xuống âm ti tùy theo những điều lành hay dữ mà người đó làm khi còn sống.

Bài liên quan

Người niệm Phật thì chẳng ma quỷ nào dám đến gầnVậy thì Hồn là gì ? Thiên đàng và Địa ngục ở đâu ? Trong bài khởi đầu Thập giới cô hồn Quốc ngữ văn của Lê Thánh Tôn, có nói Hồn là phần tinh anh, cái phần thần thánh có ở bản thể con người và nó là thứ ” khinh quang ” nên ” thăng thượng ” lên cõi chiêu dương ( sáng rực ). Phần tinh anh là phần thứ ba trong ba thể loại của hồn : Sinh hồn, giác hồn và linh hồn. Theo kinh Địa Tạng : ” Từ khi chết, trong 7 tuần đầu, thần thức chưa có định sở đang còn vơ vẩn khắp nơi. Nếu tang gia vì người quá vãng chí thành cầu nguyện, Phật sẽ tiếp độ “. Đây là tín lý của nghi cúng thất 7 tuần đầu để cầu cho vong hồn hay thần thức còn gọi là Trung ấm hay Thức thân, được vãng sanh cõi Cực lạc Tịnh độ Niết bàn vô vi. Trên mặt lý của truyền thuyết thần thoại trong kho tàng văn hóa truyền thống dân gian có nói : dưới âm ti có mười vị vua quản lý mười cửa ngục, mỗi vị có trách nhiệm và việc làm khác nhau để xem xét người chết lúc còn sống trên trần gian đã phạm vào những tội lỗi gì mà có hình phạt tương ứng. Thời gian tạm giam ở đây không phải là sự nhốt vĩnh viễn mà theo sự phán xét dài ngắn tùy trường hợp. Địa ngục phạn ngữ gọi là Naraka नरक và Pāli là Niraya न ि रय. Theo nghĩa đen chữ âm ti có nghĩa là ngục ở dưới đất. Vì chữ địa là đất và chữ ngục là giam giữ. Còn nghĩa bóng là ý muốn nói những người nào làm ác thì chịu quả báo. Có thể là ở trước mắt, chứ không nhất thiết là sau khi chết đi mới đọa vào âm ti.

Tóm lại Địa ngục có nhiều truyền thuyết diễn nghĩa và cũng tùy theo những khái niệm riêng của mỗi tôn giáo

Trong lãnh vực Văn học dân gian, Địa ngục được xem như một địa điểm siêu nhiên, nơi của những linh hồn đến sau khi chết. Phần lớn những tôn giáo đều cho rằng âm ti là nơi giam giữ, trừng phạt những linh hồn tội lỗi, và đây cũng là nơi để cho những linh hồn được ăn năn sám hối, trước khi đi đầu thai. Phản nghĩa của Địa ngục là Thiên đàng. Có nhiều người không tin có âm ti. Bởi vì họ cho rằng Thấy rồi họ mới tin. Nhưng dù có dùng lý luận khoa học hay phương tiện đi lại nào đó đễ chứng tỏ, thì rất khó để làm họ tin được. Thí dụ trong đời sống hàng ngày tất cả chúng ta, ai ai cũng biết, vạn vật sống trên toàn cầu này đều phải nhờ không khí, nhưng không khí ở dạng vô hình dung làm thế nào thấy được, do đó tất cả chúng ta vẫn phải tin rằng nếu không có không khí thì tất cả chúng ta sẽ chết, đó là chuyện thực tiễn không ai chối cãi được. Thêm một thí dụ trong thực tiễn khác nữa : Trong đời tất cả chúng ta thường nghe nói về nguồn gốc tổ tiên của tất cả chúng ta, mặc dầu không thấy mặt được họ, nhưng tất cả chúng ta vẫn phải tin rằng, bằng một lý lẽ đơn thuần : Nếu không có ông bà tổ tiên, thì làm thế nào thời nay tất cả chúng ta được sống hiện hữu tại đây. Những chuyện đơn thuần trước mắt hoàn toàn có thể hiểu và tìm hiểu và khám phá được bằng thực ra so sánh mà còn hoài nghi thì những việc khác không dùng mắt để thấy được thì làm thế nào mà hoàn toàn có thể tin. Cũng như : người ta không thấy được ánh sáng là tại vì người ta mù, chứ không phải người mù mà không biết ánh sáng. Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Người con Phật tin Phật là qua trí tuệ chứng đắc của Ngài, chính do Ngài đã thấy rõ mọi vấn đề trên trần gian và đã kể lại cho những đồ đệ của Ngài nghe những việc như vậy để viết thành kinh để răn dạy người đời. Còn tin hay không, là chuyện cá thể của mỗi người. Đạo Phật hay Đức Phật không lôi kéo và cũng chẳng bắt ai phải tin theo. Giáo lý của Đức Phật như ngọn đèn soi sáng trong đời sống thực tiễn, vậy thì trong thực tiễn trong đời sống là gì ? Tất cả mọi hoạt động và sinh hoạt trong thực tiễn trong đời sống đều phải bị chi phối bởi nghiệp lực, vô thường, khổ, không, và vô ngã. Có một điều chắc như đinh : không có trong ngày hôm qua thì không có thời điểm ngày hôm nay và ngày mai sẽ không có. Nhân và quả tạo thành cái giải luân hồi vô tận và tất cả chúng ta nên nghĩ rằng : Nhân tốt sẽ không khi nào sanh trái đắng. Đức Phật có nói : Chúng sanh bị đọa vào âm ti vì đã tạo nhiều nghiệp ác, tà kiến. Chúng ta nhờ tạo dựng nghiệp nhân làm người, sống giữa cõi người, còn những chúng sanh nào tạo nghiệp nhân âm ti thì sống trong âm ti … Đây là một thực sự của nhân quả, nghiệp báo, do đó âm ti là một cảnh giới, một cõi sống đơn cử, không phải là ẩn dụ hay hình tượng. Ngày nay, âm ti không phải chỉ Open ở một quốc tế lạ lẫm và bí hiểm nào, như tất cả chúng ta đã tìm hiểu thêm sơ qua trong những đoạn kinh ở trên hay trong kho tàng văn học dân gian, mà âm ti hiện hữu luôn nằm ngay trong cuộc sống hiện hữu của tất cả chúng ta. Bởi vì ở đâu có đau khổ, có máu và nước mắt là ở đấy có âm ti. Thế giới hiện đang chiêu cảm nhiều thiên tai chết chốc, giết chốc quyết liệt bởi cuộc chiến tranh đang diển ra khắp nơi. Mỗi ngày hàng vạn con vật bị lên lò sát sanh, hàng ngàn người bị tra tấn trong mọi lao tù. Đây mới chính là hình ảnh trong thực tiễn của một âm ti hiện hữu trần gian một cách toàn vẹn. Căn bản ngục, Cận biên ngục, Cô độc ngục, mỗi ngày không còn dựng lên một nơi mà đã tràn ngập khắp nơi trong đời sống, không do sự xúi giục của Ngạ Quỷ, đầu trâu mặt ngựa, mà do tự bàn tay tàn tệ của chính con người tự tạo ra, để rồi con người phải tự chính mình tự chôn vào đó, cũng chỉ vì Nhân loại tranh chấp nhau vì những lợi quyền kinh tế tài chính, chánh trị và tranh chấp nhau vì tư tưởng. Những tâm niệm xấu xa, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam và tàn khốc, là một âm ti sâu thẳm trong mỗi tâm hồn quả đât và cũng là nguồn gốc tạo ra những loại âm ti khác trên trần gian. Khi ngọn lửa tâm tưởng xấu xa, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam và tàn khốc còn bừng cháy trong mỗi cá thể, thì ngọn lửa khổ đau của toàn thể trái đất không thể nào dập tắt được nữa. Thế giới ngoại cảnh biến hiện tùy thuộc vào tâm thức của mỗi người. Khi đôi mắt đã nhuộm màu đỏ của sự gian ác, thì cảnh vật bên ngoài làm gì không ngập đầy máu đau thương !. Muốn cứu độ quả đât đang thoi thóp trong đau khổ và hận thù trong những âm ti, thì mỗi cá thể phải tự cứu mình trước đã. Đây chính là cuộc cách mạng vĩ đại nhất rất khó làm.

Tất cả địa ngục không còn giá trị, khi trong lòng mỗi người không còn những ngọn lửa tâm tưởng xấu xa, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam và tàn bạo.

Trích trong Tinh Hoa Phật Học của TS Huệ Dân,

Kính bút

TS Huệ Dân

Source: abingdonobgyn.com
Category: Blog

nguyenhoang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *